Chiến Hạm Trịnh Hòa / Zheng He thuộc Hạm Đội Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông Việt Nam) đến viếng “hữu nghị” Cảng Đà Nẵng vào hạ tuần tháng 11 năm 2008. Tàu chiến Mỹ, Úc và nhiều nước khác vẫn thường thăm viếng thân hữu Việt Nam, nhưng tại sao chiến hạm nầy của Trung Quốc lại mang một ý nghĩa bất thường khi có mặt tại Đà Nẵng?

Trịnh Hòa / Zheng He (còn gọi là Cheng Ho, 1371?-1435?) là hoạn quan Thủy Sư Đô Đốc nổi tiếng thời Nhà Minh Trung Quốc, đã lãnh đạo 6 trong số 7 chuyến thám hiển hàng hải về phương Nam đến tận Bắc Úc và Ấn Độ Dương đến tận Châu Phi. Trong chuyến đầu tiên năm 1405-07, đoàn tàu Trịnh Hòa đã ghé lại Đại Việt và, theo luận điệu của Bắc Kinh ngày nay, họ đã nhiều lần đặt chân lên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Bắc Kinh sử dụng các chuyến thám hiểm của Trịnh Hòa như là một trong số các dữ kiện lịch sử để chứng minh chủ quyền của họ tại hai quần đảo nầy của Việt Nam. Sự có mặt của Chiến Hạm Trịnh Hòa còn bao hàm một ý nghĩa đe dọa Việt Nam về sức mạnh hải quân Trung Quốc, vì Trịnh Hòa thuộc Hạm Đội Biển Nam Trung Hoa mà hậu cứ đặt tại đảo Hải Nam.

Hạm Đội nầy, với căn cứ tàu ngầm hiện đại, là lực lượng hải quân hùng mạnh nhứt tại Biển Đông, trong khi Hạm Đội 7 của Mỹ phải trải rộng khắp vùng Tây Thái Bình Dương. Đây là một đe dọa trực tiếp cho Việt Nam và cũng là đe dọa cho các nước khác ở Đông Bắc Á, Đông Nam Á và Úc Đại Lợi / New Zealand.

Trong quan hệ giữa Bắc Kinh và Hà Nội, vấn đề Hoàng Sa và Trường Sa là đe dọa , mâu thuẩ̀n biểu hiện trong khi một đe dọa khác thầm lặng nhưng không kém phần nguy hại đang xảy ra ở bên kia dải Trường Sơn (1).

Trường Sơn Đông và Trường Sơn Tây không chỉ thuần là địa danh, mà còn là hai nhóm chữ đã được cộng sản Việt Nam sử dụng đặt tên cho chiến dịch xâm nhập võ khí và bộ đội từ Bắc vào Nam bằng đường thủy và đường bộ. Đây là tử lộ của cả thế hệ sinh Bắc tử Nam cho đến ngày 30 tháng 4 năm 1975.

Cuộc chiến Việt Nam đã chấm dứt trên 30 năm trong đau thương và bất hạnh cho dân tộc. Nhưng Trường Sơn Đông và Trường Sơn Tây đã không dừng lại ở thời điểm thủ đô Sài Gòn thất thủ, khi đại pháo và chiến xa Liên Sô và Trung Quốc tràn qua cổng Dinh Độc Lập. Điều khác biệt là trong 30 năm qua và có thể trong 30 năm tới, chiến lược Trường Sơn Đông và Trường Sơn Tây vẫn được theo đuổi, không phải bởi Hà Nội mà là do Bắc Kinh chỉ đạo với một hậu quả vô cùng bi thảm cho dân tộc Việt Nam. Có thể Trung Quốc không đặt tên chiến lược nầy một cách hoa mỹ như Bộ Chính Trị Đảng Cộng Sản Việt Nam, nhưng cứ nhìn vào bản đồ địa lý chánh trị khu vực Đông là Đông Nam Á, chúng ta có thể hình dung được ý đồ đen tối của Bộ Chính Trị Đảng Cộng Sản Trung Quốc – đó là làm suy yếu và kìm hãm Việt Nam trong quỹ đạo Bắc Kinh.

Quyền lợi quốc gia là mục tiêu tối hậu trong mọi bang giao quốc tế, bất kể là song phương hay đa phương. Có những chánh sách được theo đuổi vì mục tiêu ngắn hạn, có những liên minh được thành lập vì mục tiêu dài hạn và quyền lợi của nước nầy không nhứt thiết phải loại trừ hoặc giảm hạ quyền lợi của nước kia. Trái lại, hợp tác quốc tế có thể gia tăng quyền lợi chung và mọi thành viên kết ước đều có lợi.

Thế nhưng trong bang giao với Bắc Kinh, Hà Nội đã đánh đổi quyền lợi lâu dài của dân tộc bằng mục tiêu ngắn hạn của Đảng Cộng Sản Việt Nam, hay nói khác đi, Hà Nội đã đặt quyền lợi cục bộ của đảng lên trên quyền lợi chung của quốc gia.

Nhìn từ Bắc Kinh, Trường Sơn Đông là hải lộ huyết mạch nối liền Eo Biển Malacca với vùng Đông Bắc Á mà hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa tọa lạc ở vị trí chiến lược và Trường Sơn Tây là sông Mekong có lúc bị cạn dòng, có lúc gây ra lũ lụt. Kiểm soát được hai địa bàn nầy là Trung Quốc đặt Hà Nội vào gọng kìm do Bắc Kinh chủ động về phương diện an ninh quốc phòng, phát triển kinh tế và bảo vệ môi sinh.

Từ khi được thành lập vào đầu thập niên 1930, Đảng Cộng Sản Việt Nam - mà tiền thân là Đảng Cộng Sản Đông Dương và Đảng Lao Động Việt Nam – đã làm rất nhiều lầm lỗi. Cá biệt trong tiến trình hình đặt mình vào Gọng Kìm Bắc Kinh, Hà Nội đã lấy hai quyết định tai hại vào năm 1958 và năm 1995 mà lịch sử không thể tha thứ được.

Phạm Văn Đồng và Công Hàm 1958

Sau khi Trung Quốc tuyên bố chủ quyền lãnh hải 12 dặm kể cả vùng biển chung quanh Hoàng Sa và Trường Sa, chế độ Hà Nội, dưới hình thức Công Hàm ngày 14 tháng 9 năm 1958 do thủ tướng Phạm Văn Đồng ký gởi Tổng Lý Châu Ân Lai, công nhận chủ quyền lãnh hải của Bắc Kinh tại Hoàng sa và Trường Sa. Tất nhiên, không quốc gia nào có thể công nhận chủ quyền lãnh hải mà không công nhận chủ quyền lãnh thổ của một quốc gia khác.

Vào tháng Giêng năm 1974, Hà Nội không phản đối Bắc Kinh và giữ thái độ hoàn toàn im lặng khi hải quân Trung Quốc tấn công hải quân Việt Nam Cộng Hòa và chiếm đóng Hoàng Sa bằng võ lực. Thái độ khiếp nhược nầy phù hợp với lập trường cống hiến lãnh thổ của Bộ Chính Trị Đảng Cộng Sản Việt Nam như đã được thể hiện qua Công Hàm Phạm Văn Đồng.

Vào đầu thập niên 1990, ngoại trưởng Nguyễn Mạnh Cầm đã cố giải thích gỡ gạc rằng “Công Hàm Phạm Văn Đồng” phải được hiểu trong bối cảnh thời chiến. Thật ra, vào năm 1958, Hà Nội đang chuẩn bị khai sinh “Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam” năm 1960 để làm bình phong cho cuộc xâm lăng ồ ạt vào Việt Nam Cộng Hòa. Vào năm 1974, Hà Nội lại chuẩn bị tổng tấn công qua vĩ tuyến 17. Cả hai đều là những vi phạm trầm trọng Hiệp Định Genève 1954 và Hiệp Định Paris 1973.

Rõ ràng là Hà Nội đã cống hiến một phần lãnh thổ quan trọng của dân tộc cho ngoại bang để đổi lấy viện trợ quân sự và kinh tế cần thiết cho cuộc xâm lăng Việt Nam Cộng Hòa vào đầu năm 1975.

Ngoài Trung Quốc và Việt Nam, Hoàng Sa và Trường Sa còn là hải đảo tranh chấp bởi Malaysia, Brunei, The Philippines và Đài Loan nữa. Tuy bốn trong số sáu phe tranh chấp là thành viên của tổ chức Asean, nhưng Asean không có lập trường chính thức về hai quần đảo nầy, nên Bắc Kinh rất dễ dàng theo đưổi phương thức chia để trị. Asean còn chịu áp lực nặng nề của Trung Quốc – là một thành viên đối tác chính của Asean, nên Hà Nội cũng không thể trông cậy vào Asean được.

Mất chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là tổ quốc Việt Nam mất đi thế đứng chiến lược quan trọng tại Biển Đông và bị thiệt thòi trầm trọng về nguồn tài nguyên dầu khí chung quanh hai quần đảo nầy, cũng như các quyền lợi kinh tế khác vì vùng chuyên biệt 200 hải lý (exclusive economic zone) của Việt Nam bị thu hẹp lại. Tất cả đều là quyền lợi chung và lâu dài của dân tộc, so với quyền lợi riêng và ngắn hạn của Đảng Cộng Sản Việt Nam.

Kể từ 1956, Bắc Kinh không ngừng củng cố chủ quyền tại Hoàng Sa và Trường Sa bằng áp lực ngoại giao cũng như bằng hành động xâm lược quân sự. Họ đã thiết lập sân bay, tăng cường khả năng quân sự và phát triển sự hiện diện dân sự. Gần đây một cấu trúc hành chánh gọi là Huyện Tam Sa được thành lập để chính thức hóa việc quản lý Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.

Về phía Việt Nam, những bằng chứng lịch sử và tài liệu pháp lý về chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã được sưu tầm và đúc kết tương đối đầy đủ và có tín lực (2).

Tuy nhiên trong nhiều cuộc thảo luận, “Công Hàm Phạm Văn Đồng” thường được coi là không có giá trị, vì hai lý do: thứ nhứt là vấn đề công nhận chủ quyền của Bắc Kinh đã không theo đúng phương thức mà Hiến Pháp Hà Nội đã qui định, và thứ hai là vào thời điểm 1958, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc quyền quản trị của Nam Việt Nam (Việt Nam Cộng Hòa).

Tôi không nghĩ là Công Hàm nầy có thể được coi là không giá trị một cách đơn giản như vậy. Hiệp ước song phương giữa hai chủ thể của Luật Quốc Tế thông thường phải theo một tiến trình đã được qui định trong hiến pháp. Thí dụ hiệp ước phải được quốc hội chuẩn y. (Trong các thể chế liên bang như Úc Châu, hiệp ước còn có thêm điều khoản giới hạn gọi là federal clause, vì có sự phân quyền giữa liên bang và các tiểu bang. Riêng tại Úc, sau khi được quốc hội phê chuẩn, hiệp ước còn phải được chuyển thành luật quốc nội mới có thể được áp dụng).

Nhưng trong bang giao quốc tế, những thỏa hiệp không có qui chế hiệp ước, vẫn có hiệu lực và thường được thực hiện bằng sự trao đổi công hàm giữa hai bên. Trên căn bản nầy, Công Hàm Phạm Văn Đồng có hiệu lực. Giả dụ công hàm nầy là “hiệp ước”, Hà Nội cũng khó mà lập luận rằng nó không có giá trị, vì sự sơ suất của chính mình (là đã không đệ trình quốc hội để phê chuẩn). Ta cần ghi nhận rằng Công Hàm nầy không hề có điều kiện là sự công nhận phải được chuẩn y theo thủ tục pháp lý quốc gia.

Về lý do thứ hai, quả thật là Việt Nam từ năm 1949 và Việt Nam Cộng Hoà từ năm 1954 thực sự hành xử chủ quyền lãnh thổ và lãnh hải hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Vào năm 1951 ở San Francisco, tại Hội Nghị Liên Hiệp Quốc có 51 quốc gia tham dự, Thủ Tướng Trần Văn Hữu đã tuyên bố xác nhận chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Không một quốc gia nào lên tiếng phản đối (3).

Các Hiến Pháp của Việt Nam Cộng Hòa (Sài Gòn) và của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà (Hà Nội) đều qui định rằng lãnh thổ Việt Nam bất khả phân và chánh phủ tại Sài Gòn hoặc chánh phủ tại Hà Nội là chánh phủ hợp pháp và hợp hiến cho toàn thể Việt Nam. Khi Việt Nam Cộng Hòa được Mỹ, Anh, Pháp, Úc... công nhận về mặt pháp lý (de jure recognition), thì sự công nhận nầy có thể được diễn dịch là công nhận thẩm quyền trên cả nước Việt Nam (tạm thời bị chia đôi ở vĩ tuyến thứ 17 bởi Hiệp Định Genève ) và ngược lại cũng vậy, trong trường hợp Liên Sô, Trung Quốc công nhận Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà. (Từ năm 1968 tại Hòa Đàm Paris, VNCH đã chính thức từ bỏ lập trường nầy).

Nếu lịch sử đã không xảy ra như năm 1975 và đất nước Việt Nam đã được thống nhứt trong tự do dân chủ, thì chánh phủ tại Sài Gòn có thể tuyên bố Công Hàm Phạm Văn Đồng hoàn toàn không giá trị vì (a) Hà Nội đã lạm quyền và (b) chánh phủ tại Sài Gòn của một nước Việt Nam thống nhứt không phải là quốc gia kế thừa của Hà Nội theo nguyên tắc “State succession”, nên không bị ràng buộc bởi công hàm nầy. Trái lại, Hà Nội không thể sử dụng lập luận nầy nhân danh Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

Do lầm lỗi năm 1958, Hà Nội đang lâm vào tình trạng bế tắc. Hà Nội không thể đưa Bắc Kinh ra trước Tòa Án Quốc Tế, vì Tòa Án nầy chỉ thụ lý một vụ tranh chấp khi các quốc gia liên hệ chấp nhận thẩm quyền của Tòa Án. Bắc Kinh đang ở thế thượng phong và hoàn toàn chủ động thì việc gì mà Bắc Kinh phải chấp nhận thẩm quyền của Tòa Án Quốc Tế. Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982 có thể là một hi vọng, nhưng Hà Nội khó có thể tranh thủ được ủng hộ quốc tế trong cuộc tranh chấp với Bắc Kinh.

Lãnh đạo Bộ Chính Trị Đảng Cộng Sản Việt Nam và gần đây Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng hồi cuối tháng 10 năm 2008 đã thay nhau đến Thiên Triều để̀ được nghe Bắc Kinh thuyết giảng về hợp tác hòa bình. Và trong trường hợp Hà Nội không “ngoan”, Bắc Kinh một cách không chính thức đã phổ biến kế hoạch tấn công và chiếm đóng Việt Nam trong 31 ngày (4). Sự có mặt của Chiến Hạm Trịnh Hòa tại Cảng Đà Nẵng nhắc nhở cho Hà Nội về sức mạnh của Hạm Đội Biển Nam Trung Hoa. Từ Trường Sơn Đông nhìn về hướng Tây, ta thấy gì? Sông Mekong, một thủy lộ quốc tế và từng là nguồn nước phì nhiêu của Đồng Bằng Cửu Long – đang cạn dòng và bị nhiễm mặn.

Nguyễn Mạnh Cầm và Hiệp Định 1995 về sông Mekong

Ông Nguyễn Mạnh Cầm, với tư cách ngoại trưởng thừa lịnh Bộ Chính Trị Đảng Cộng Sản Việt Nam, đã ký tên vào Hiệp Định thành lập Uỷ Hội Sông Mekong (Mekong River Commission) bãi bỏ quyền phủ quyết của thành viên mà Việt Nam đã có từ năm 1957 đối với những dự án bất lợi cho một quốc gia hạ nguồn như Việt Nam.

Vào năm 1957, Uỷ Ban Mekong (Mekong Committee) được thành lập dưới sự bảo trợ của Liên Hiệp Quốc (Ecafe) và gồm bốn thành viên là Lào, Thái Lan, Cao Miên và Việt Nam (với quyền phủ quyết). Trung Quốc không muốn làm hội viên. Vả lại, Bắc Kinh chưa phải là thành viên Liên Hiệp Quốc và chiếc ghế tại Liên Hiệp Quốc cũng như tư cách hội viên thường trực Hội Đồng Bảo An hãy còn do Trung Hoa Dân Quốc ở Đài Loan nắm giữ cho đế́n đầu thập niên 1970. Uỷ Ban Quốc Gia sông Mekong đặt tại Bộ Công Chánh và Giao Thông, Sài Gòn, đại diện cho Việt Nam tại Uỷ Ban Mekong nầy có trụ sở ở Bangkok.

Sau biến cố 1975, chế độ Khmer Đỏ không tham dự vào Uỷ Ban Mekong, nên ba thành viên còn lại phải thành lập Uỷ Ban Mekong Lâm Thời (Interim Mekong Committee) từ năm 1977. Vào ngày 5 tháng 4 năm 1995, bốn quốc gia Lào, Thái, Căm Bốt và Việt namcký kết Hiệp Định ‘The Agreement on the Co-operation for the Sustainable Development of the Mekong River Basin’ và thành lập Uỷ Hội Sông Mekong với trụ sở đặt tại Vientaine, Lào (The MRC Secretariat). Không gia nhập vì lý do chiến lược là Trung Quốc và có thể vì lý do thờ ơ (?) là Miến Điện. Tuy vậy, Trung Quốc và Miến Điện trở thành quốc gia đối tác với Uỷ Hội từ năm 1996.

Với vị trí chân trong chân ngoài, Trung Quốc có thể đơn phương hành động hoặc hợp tác với Uỷ Hội để theo đuổi tối đa quyền lợi quốc gia. Ở thượng nguồn, Trung Quốc kiểm soát gần 20% lưu lượng nước của sông Mekong. Bắc Kinh đã và đang xây cất một chuỗi đập thủy điện để phát triển vùng Vân Nam và Hoa Nam, bất kể hậu quả tai hại cho các nước ở hạ nguồn. Thái Lan và Lào cũng theo chân Trung Quốc mà Việt Nam không ngăn cản được vì đã mất quyền phủ quyết. Hàng chục dự án lớn nhỏ khác đang hoặc sẽ được xây dựng có khả năng gây ảnh hưởng tiêu cực cho Đồng Bằng Sông Cửu Long (5).

Vì vậy chỉ mới ba thập niên sau 1975 mà vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long đã phơi bày dấu hiệu cằn cỗi, nhiễm mặn, gây thiệt hại cho môi trường và lợi nhuận kinh tế, nông nghiệp của Việt Nam. Từng là vùng giàu có phì nhiêu và là vựa lúa của cả nước, ít ai có thể nghĩ rằng ngày nay vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long cùng với miền Thượng Du Bắc Việt là hai vùng nghèo khó nhứt nước, theo dữ liệu của Quỹ Phát Triển Liên Hiệp Quốc UNDP.

Tất nhiên hoàn cảnh bi đát nầy cũng phần nào gây ra bởi chánh sách sử dụng, khai thác kinh tế bửa bãi tại vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long, nhưng trên căn bản dài hạn, các nước thượng nguổn nhứt là Trung Quốc có khả năng làm kiệt quệ Việt Nam.

Trung Quốc sử dụng sức mạnh chánh trị, quân sự và kinh tế để kìm hãm Việt Nam với chiến lược có thể gọi là Trường Sơn Đông /Trường Sơn Tây. Vì quyền lợi cục bộ của Đảng, giới lãnh đạo cộng sản Việt Nam trong nửa thế kỷ qua đã đặt mình vào gông cùm lệ thuộc khó thoát nầy.

Cái khó nó bó cái khôn. Hà Nội càng ngày càng lún sâu vào vòng ảnh hưởng của Trung Quốc. Về mặt kinh tế, ngày 25 tháng 12 năm 2008, Bắc Kinh loan báo sẽ sử dụng đồng yuan làm tiền tệ cho mậu dịch hai chiều giữa Việt Nam và Tỉnh Quảng Tây, thay vì Mỹ Kim hoặc đồng Euros hay những ngoại tệ hoán chuyển khác (6).

Đồng ‘yuan’ hay là đồng ‘nguyên’ (còn gọi là renminbi tức là nhân dân tệ) do Ngân Hàng Nhà Nước Bắc Kinh phát hành, chưa phải là một đơn vị tiền tệ quốc tế như đồng mỹ kim hay đồng yen, mặc dầu Trung Quốc là cường quốc kinh tế chỉ đứng sau Nhựt Bản tại Châu Á. Thật ra quyết định nầy của Bắc Kinh chỉ chính thức hóa một thực tế giữa vùng Hoa Nam và Việt Bắc, vì đồng yuan đã được sử dụng từ nhiều năm qua trong việc trao đổi thương mại giữa hai nơi.

Hàng hóa Trung Quốc đã tràn ngập thị trường Việt Nam và người láng giềng khổng lồ nầy không ngần ngại “lấy thịt đè người” và nay còn sử dụng tiền tệ để trói buộc Hà Nội.

Quảng Tây nằm trong “Chách Sách Phát Triển Miền Tây” của Trung Quốc. Chánh sách nầy được theo đuổi qua nhiều kế hoạch quốc gia và quốc tế trong khu vực Hoa Nam / Đông Nam Á: thí dụ như hợp tác kinh tế Vùng Lưu Vực Sông Mekong (Greater Mekong Sub-Region Economic Cooperation – GMS) bao gồm hai tỉnh Vân Nam, Quảng Tây và năm nước hạ lưu sông Mekong là Miến Điện, Lào, Thái Lan, Cao Miên và Việt Nam. Trung Quốc còn đẩy mạnh một kế hoạch khác với một danh xưng rất ngạo mạn là Pan-Beibu Gulf Economic Cooperation tức là hợp tác kinh tế Liên Vịnh Bắc Bộ bao gồm Quảng Tây, Hải Nam và Việt Bắc. Bắc Kinh dự trù sẽ mở rộng kế hoạch nầy đến các nước duyên hải Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông Việt Nam) như Philippines, Malaysia, Singapore, Indonesia và Brunei.

Cả hai kế hoạch nầy đều được Ngân Hàng Phát Triển Á Châu ADB (và Úc Châu ) ủng hộ nhằm khuyến khích phát triển kinh tế cho toàn khu vực. Nhưng, đối với Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, đây là con dao hai lưỡi, vì Hà Nội không có khả năng vượt thoát gọng kìm Bắc Kinh.

Mặc dầu đảng Cộng Sản Việt Nam không được sự ủy nhiệm rộng rãi của nhân dân qua cuộc bầu cử tự do trong một thể chế dân chủ pháp trị, chánh phủ Hà Nội trong khi cầm quyền, vẫn phải chịu trách nhiệm trước lịch sử vì đã thất bại trong sứ mạng bảo vể chủ quyền độc lập và sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Chỉ trong một hai thập niên sắp tới, với đà lớn mạnh nhanh chóng của Trung Quốc và Ấn Độ, thế giới nầy sẽ là một thế giới đa cực – mà các trụ điểm là Washington, Bắc Kinh, New Delhi và Moscow (7). Đây là thách thức lớn lao mà cũng là cơ hội cho đảng Cộng Sản Việt Nam, nếu đảng nầy còn tiếp tục cầm quyền, để theo đuổi một sách lược đa dạng và uyển chuyển hơn với các trụ điểm đối trọng với Bắc Kinh. Đây chỉ là một dự kiến lạc quan.

Còn kỳ vọng của chúng ta là khi nào Việt Nam trở thành một quốc gia dân chủ tiến bộ và phát triển, thì cơ hội thoát khỏi “gọng kìm Bắc Kinh” mới có cơ may thành tựu để thương thuyết lại những thoả hiệp bất lợi và bất bình đẳng cho Việt nam.

Sydney, cuối tháng 12 năm 2008

Ghi Chú:

(1) Nội dung trình bày trong các cuộc phỏng vấn với Đức Tâm, Đài Phát Thanh Quốc Tế Pháp RFI, Paris, ngày 6.2.2008, và với Ngọc Hân, Đài Phát Thanh Quốc Gia SBS Radio của liên bang Úc Đại Lợi, Sydney, ngày 8 và 11.2.2008, và tại buổi phát hành Đặc San số 2 của Nhóm Nguyên Cứu Văn Hóa Đồng Nai & Cửu Long, Sydney, ngày 20.4.2008.

(2) Xem tài liệu: Bộ Ngoại Giao Việt Nam Cộng Hòa, Bạch Thư về Hoàng Sa và Trường Sa, Sài Gòn, 1974 (Bạch Thư 1974). Center for Vietnam Studies & Giáo Sư Tiến Sĩ Nguyễn Văn Canh, Bạch Thư về Âm Mưu của Đảng Cộng Sản Trung Hoa Chiếm Đoạt Hoàng Sa và Trường Sa, San Jose CA. USA, 2008 (Bạch Thư 2008) Luật Sư Nguyễn Hữu Thống, Kỷ Niệm Ngày Hoàng Sa 19.01.1974, thuyết trình tại California ngày 19.01.2008.

(3) Bạch Thư 2008 - Giáo Sư Trần Huy Bích, trang 14.

(4) Trong chế độ kiểm soát chặt chẽ truyền thông mà Bắc Kinh đã để một vài websites, kể cả sina.com tại Thượng Hải, phổ biến và duy trì trên mạng đe dọa tấn công quân sự Việt Nam hồi tháng 8 năm 2008. Tuy nhiên, ngày nay Trung Quốc đâu cần phải sử dụng phương tiện quân sự như hồi năm 1979.

(5) Về mặt thủy tính, thủy sản, thổ nhưỡng, môi trường và ảnh hưởng thay đổi khí hậu tại lưu vực sông Mekong, xem những bài nghiên cứu của Tiến sĩ Mai Thanh Truyết (Mỹ), Bác sĩ Ngô Thế Vinh (Mỹ), Tiến sĩ Huỳnh Long Vân (Úc) và Tiến sĩ Trần Đăng Hồng (Anh Quốc).

(6) BBC News ngày 25-12-2008

(7) National Intelligence Council, Global Trends 2025 – A Transformed World, Washington DC, Nov 2008.